Kỳ 1: Tranh luận về khoản viện trợ bổ sung cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu

Sau khi Tổng thống Nixon từ chức vào tháng 9/1974, Gerald R.Ford lên nắm quyền trong bối cảnh chính sách đối với Việt Nam còn dang dở. Ngay khi vừa nhậm chức Tổng thống, chính quyền của Tổng thống Ford đã khẳng định tiếp tục chính sách Việt Nam hóa để duy trì sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa.

Vào thời điểm chuyển giao quyền lực tại Nhà Trắng, tình hình ở Việt Nam có những chuyển biến quan trọng tác động đến chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Khoảng giữa năm 1974, cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã đưa ra dự báo về một cuộc tổng tấn công của Quân giải phóng tại miền Nam Việt Nam. “Những thay đổi từ mùa thu năm ngoái ở miền Nam Việt Nam và trên trường quốc tế, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, sẽ ảnh hưởng lớn đến các phép tính của Hà Nội, và có nguy cơ rất rõ ràng là Hà Nội sẽ lựa chọn thực hiện một cuộc tấn công lớn. Nhưng phán đoán tốt nhất của chúng tôi hiện nay là Hà Nội sẽ không tiến hành việc đó trong nửa đầu năm 1975.” (CIA,1974)

Cuối năm 1974, Quân đội Nhân dân Việt Nam không ngừng củng cố và phát triển lực lượng, chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976. Khoảng giữa tháng 12/1974, Quân Giải phóng đã mở màn tấn công và nhanh chóng giải phóng phóng thị xã Phước Long (06/01/1975) – cách Sài Gòn 120km về phía Bắc. Sự kiện này cho thấy tính cấp thiết bổ sung ngân viện cho VNCH, William P. Clements – Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã đề xuất khoản viện trợ 300 triệu đô la đến Kissinger. Ngày 28/01/1975, Tổng thống G. Ford đã đệ trình lên Quốc hội chương trình viện trợ quân sự bổ sung 300 triệu đô la để bù đắp vào nguồn viện trợ đã cắt từ 1,4 tỷ đô la năm 1974 xuống còn 700 triệu đô la năm 1975. Tổng thống Ford tin rằng: “viện trợ bổ sung này sẽ giúp ngăn chặn Bắc Việt tiếp tục leo thang quân sự và cung cấp thêm động lực cho họ để tiếp tục các cuộc đàm phán chính trị dự kiến theo Hiệp định Paris” (Gerald R. Ford, 1975)

Tuy nhiên, cuộc trao đổi giữa Tổng thống và lưỡng viện Hoa Kỳ cho thấy sự bất đồng sâu sắc về chính sách Việt Nam. Một vài nghị sĩ phản đối mạnh mẽ việc tiếp tục viện trợ như nghị sĩ O’Neill: “Tôi nghĩ rằng người dân Hoa Kỳ cảm thấy rằng đất nước này đã xuống cấp trong 10 năm qua vì Việt Nam”. Nghị sĩ Ullman lo ngại về năng lực thực sự của chính quyền Sài Gòn: “Chúng tôi thấy sự chia rẽ trên đường phố Sài Gòn. Chúng tôi đang đặt tiền vào một nơi chấp nhận sự thất bại”. Người đứng đầu Hạ viện, Chủ tịch Albert mong rằng nên để cho Việt Nam kết thúc. (Department of State, 2010, Document 168). Bên cạnh đó, nhóm nghị sĩ khác thể hiện sự đồng thuận và có khả năng đồng ý như Thermond, Stennis, Scott… Cuộc chạm trán giữa Quốc hội và Chính phủ đã nảy sinh, khi Tổng thống muốn có một sự thỏa hiệp. Tổng thống Ford khẳng định sự cần thiết của chương trình viện trợ đối với Chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ và với tình hình Đông Nam Á.

Hình 1: Báo cáo mật ngày 12/02/1975 về việc phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ sang Sài Gòn

 (Nguồn: Trung tâm lưu trữ Quốc gia II)

Tổng thống Ford đã đề nghị các lãnh đạo Quốc hội thành lập một nhóm đại diện của lưỡng Đảng đến Việt Nam để có thêm các bằng chứng về sự cần thiết của viện trợ[1]. Phải mất gần ba tuần từ ngày đề xuất (28/1) danh sách đoàn đại biểu mới hoàn tất. Điều này cho thấy sự thận trọng và những tranh luận kéo dài trong Quốc hội Hoa Kỳ đối với 300 triệu đô la quân viện. Phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ đến Việt Nam gồm:

Nhóm có xu hướng phản đối, chống lại hoạt động của Hoa Kỳ tại Đông Dương: Nghị sĩ Dewey F. Bartlett (Cộng Hòa, bang Florida); dân biểu Bella Abzug (Dân chủ, bang New York), Paul MCCloskey (Cộng hòa, bang California), Donald Fraser (Dân chủ, bang Minnesota); Nhóm có xu hướng ủng hộ viện trợ: dân biểu John J. Flynt (Dân chủ, bang Georgia), William V. Chappell (Dân chủ, bang Florida), J.P.Murtha (Dân chủ, bang Pennsylvania); Nhóm chưa xác định rõ quan điểm dân biểu Millicent Fenwick (Cộng hòa, bang New Jersey), Philip C. Habid – Phụ tá đặc trách Đông Nam Á và Thái Bình Dương; Erich von Marbod – Phó Phụ tá Bộ Trưởng Quốc phòng. (ĐIICH, 1975)

Phái đoàn Quốc hội Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam và Campuchia trong khoảng thời gian từ ngày 22/02 đến 03/3/1975. Theo Nguyễn Tiến Hưng, Bộ trưởng Kế hoạch của VNCH giai đoạn 1973-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ý thức rõ vai trò của Quốc hội Hoa Kỳ đối với chương trình quân viện bổ sung 300 triệu USD. Vì vậy, chính quyền Sài Gòn đặc biệt chú trọng việc tổ chức chương trình tiếp đón và làm việc với phái đoàn, với hy vọng có thể thuyết phục các nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ viện trợ cho VNCH. (Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold L.Schecter, 1987, tr 424 – 425)

 

…còn tiếp kỳ 2, Buổi “chiêu đãi đặc biệt” tại Dinh Độc Lập

[1] Từ tháng 3/1973, Quốc Hội Hoa Kỳ đã thông qua nhiều biểu quyết để giới hạn quyền lực của Tổng thống Hoa Kỳ về chiến tranh thông qua 2 văn bản: Bản tu chính Case Church Amendment và War Powers Resolution.

Tu chính án Case–Church cấm sử dụng ngân khoản quốc gia để đưa quân đội Hoa Kỳ tham chiến trên bộ, trên không hoặc ngoài khơi Đông Dương. Quy định này có hiệu lực đối với tất cả các tài khóa về sau. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn có thể sử dụng ngân sách cho chiến tranh nếu được Quốc hội cho phép. Văn bản chính thức có hiệu lực từ ngày 15/8/1973.

Đối với Nghị quyết Quyền lực Chiến tranh, Tổng thống, với tư cách Tổng tư lệnh tối cao, có quyền sử dụng quân đội trong một số trường hợp nhất định: khi Quốc hội tuyên chiến; khi có đạo luật minh thị cho phép; hoặc khi cần bảo vệ nước Hoa Kỳ, các vùng lãnh thổ thuộc Hoa Kỳ hay lực lượng vũ trang Hoa Kỳ trước một cuộc tấn công. Tuy nhiên, trước khi đưa quân tham chiến, Tổng thống phải tham khảo ý kiến Quốc hội; sau khi quân đội đã được triển khai, Tổng thống cũng có trách nhiệm tiếp tục trao đổi với Quốc hội cho đến khi hoạt động tham chiến chấm dứt.

Tài liệu tham khảo:

CIA (1974), The Likelihood of a Major North Vietnamese Offensive Against South Vietnam Before June 30, 1975, SECRET, NIE 53/14/3-1-74, 23.05.1974.

Gerald R. Ford (1975), Special Message to the Congress Requesting Supplemental Assistance for the Republic of Vietnam and Cambodia.  Online by Gerhard Peters and John T. Woolley, The American Presidency Project https://www.presidency.ucsb.edu/node/257175

Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold L.Schecter. (1987). Hồ sơ mật Dinh Độc Lập (Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Đàm dịch). C&K Promotions.

Department of State (2010), Foreign Relations of the United States, 1969–1976, Volume X, Vietnam, January 1973–July 1975. Document 168.

Danh sách khách dự tiệc của Tổng thống ngày 1/3/1975. Phông Đệ nhị Cộng hòa, hồ sơ số 1257. Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Tp.HCM.