
Từ những áp lực quân sự đến khủng hoảng chính trị
Cuối năm 1974, lực lượng Quân Giải phóng đã tăng cường quân sự chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976. Chiến dịch Phước Long ngày 13/12/1974 là trận đánh mở đầu để thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ và sức phản công của quân lực Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban đầu đánh giá “đây chỉ là một việc nhất thời” (Nguyễn Văn Thiệu, 1975a) và tuyên bố”sẽ trở lại” (Nguyễn Văn Thiệu, 1975b), nhưng chưa có kế hoạch quân sự cụ thể.
Sau thất bại ở Phước Long, ngày 10/3/1975, Buôn Mê Thuột nhanh chóng thất thủ . Trong cuộc họp khẩn ở Cam Ranh ngày 14/03/1975, Tổng thống Thiệu hạ lệnh triệt thoái đội quân tại Cao Nguyên. Cuộc triệt thoái diễn ra trong điều kiện thiếu thống nhất về mặt tổ chức và tinh thần hoang mang của quân lực, dẫn đến sự tan rã nhanh chóng của hệ thống phòng thủ quân lực VNCH. Sự sụp đổ liên tiếp của hệ thống phòng thủ miền Trung (Huế ngày 26/3, Đà Nẵng ngày 29/3) buộc chính quyền VNCH phải thu hẹp không gian chiến lược và thiết lập tuyến phòng thủ mới kéo dài từ Phan Rang đến Xuân Lộc nhằm bảo vệ Sài Gòn. Ngày 21/4 chốt quân sự cuối cùng ở Xuân Lộc thất thủ, tuyến phòng thủ chiến lược cuối cùng bảo vệ Sài Gòn của VNCH sụp đổ.
Song song với khủng hoảng quân sự là sức ép chính trị ngày càng tăng, từ cuối năm 1974, các lực lượng chính trị đối lập gia tăng sức ép yêu cầu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức. “Phong trào nhân dân chống tham nhũng” do linh mục Trần Hữu Thanh và một số nhân sĩ khởi xướng đã công khai chỉ trích chính quyền. Nhóm đưa ra bản Cáo trạng số 1 để nhắm tới Tổng thống Thiệu và đội ngũ tướng, tá có hành vi tham nhũng. Các nghị sĩ, dân biểu của VNCH cũng chỉ trích những chính sách sai lầm của Tổng thống Thiệu, buộc ông từ chức và kiến nghị “tổ chức ngay cuộc tổng tuyển cử ngõ hầu quốc dân có thể tự do chọn lựa một vị lãnh đạo xứng đáng…” (Tài liệu của Hạ Nghị viện, 1975)
Khi đó tại Washington, chính quyền Tổng thống Gerald Ford không thể thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ thông qua gói viện trợ khẩn cấp dành cho VNCH. Sự bất đồng ngày càng rõ rệt giữa hành pháp và lập pháp phản ánh xu hướng Quốc hội muốn chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam, trong khi Nhà Trắng vẫn nỗ lực vận động nhằm duy trì những cam kết đối với VNCH. Trong bối cảnh đó, những tín hiệu ngoại giao cho thấy Washington kỳ vọng một sự điều chỉnh lãnh đạo nhằm mở ra khả năng cho một giải pháp chính trị mới tại Sài Gòn.
Diễn văn từ chức ngày 21/04/1975
Tối ngày 21/4/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn từ chức với sự chứng kiến của Thượng viện, Hạ viện, Tối cao pháp viện, Hội đồng Nội các và các tướng lĩnh. Theo Hiến pháp VNCH, vị trí Tổng thống sẽ được chuyển giao cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương.

Trong bài diễn văn, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ trích Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh VNCH đã gắn bó hơn hai thập kỷ. Ông cho rằng Hoa Kỳ đã xem VNCH như một công cụ để phục vụ quyền lợi cho chính quốc và quy trách nhiệm cho Hoa Kỳ vì đã ép buộc ông ký vào Hiệp định Paris năm 1973. Ông đánh giá Hoa Kỳ là một đồng minh “thất hứa! thiếu công bằng, thiếu tín nghĩa, vô nhân đạo”(Nguyễn Văn Thiệu, 1975c). Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng thừa nhận quân lực VNCH phụ thuộc vào sự viện trợ của Hoa Kỳ và nhấn mạnh những khó khăn nghiêm trọng của Quân lực VNCH khi phải chiến đấu trong điều kiện hạn chế về nguồn lực: “súng thiếu, đạn thiếu, thuốc thiếu, xăng thiếu, máy bay thiếu, không có B-52 lại bảo tôi làm cái chuyện đội đá vá trời”(Nguyễn Văn Thiệu, 1975c).
Phần lớn dư luận đều có sự đồng thuận về việc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Một số dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ cho rằng Tổng thống Thiệu từ chức là bước đi “đúng hướng” và hy vọng hành động này sẽ giúp thương thuyết viện trợ. Báo chí Anh Quốc đánh giá sự kiện này là dấu hiệu cho sự sụp đổ và tấn thảm kịch của chính quyền VNCH. Báo The Guardian mỉa mai: “Tổng thống Thiệu từ chức có thể lại hóa ra là một hành động yêu nước nhất trong sự nghiệp chính trị của ông” (Tập bản kiểm thính đài phát thanh ngoại quốc, 1975).

Việc từ chức của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phản ánh khủng hoảng toàn diện mà VNCH đối mặt vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Điều này đã tác động đáng kể đến tinh thần chiến đấu của quân đội VNCH trong lúc Quân Giải phóng đang giành ưu thế trên chiến trường.
Chỉ hơn một tuần sau, các lực lượng Quân Giải phóng nhanh chóng tiến về Sài Gòn. Hình ảnh xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 đánh đấu khoảnh khắc sụp đổ của chính quyền VNCH, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc: hòa bình, thống nhất đất nước.
Danh mục tài liệu:
Nguyễn Văn Thiệu. (1975a). Lời kêu gọi ngày 07/01/1975 của Tổng thống. Phông Đệ Nhị Cộng Hòa (hồ sơ số 568). Trung tâm lưu trữ quốc gia II, Tp.HCM.
Nguyễn Văn Thiệu. (1975b). Phát biểu ngày 10/01/1975 của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Đệ Nhị Cộng Hòa (hồ sơ số 3760). Trung tâm lưu trữ quốc gia II, Tp.HCM.
Nguyễn Văn Thiệu. (1975c, Tháng Tư 21). Diễn văn từ chức của Tổng Thống. hồ sơ Nguyễn văn Thiệu (Dinh Độc Lập).
Tài liệu của Hạ Nghị viện, các đoàn thể,cá nhân kiến nghị đòi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức năm 1974-1975. (1975). Đệ Nhị Cộng Hòa (hồ sơ số 6723). Trung tâm lưu trữ quốc gia II, Tp.HCM.
Tài liệu của Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo về những bài báo Ngoại quốc đáng lưu ý tháng 1-3/1975. (1975). Phủ Thủ Tướng (hồ sơ số 18717). Trung tâm lưu trữ quốc gia II, Tp.HCM.
Tập bản kiểm thính đài phát thanh ngoại quốc của Phủ đặc ủy trung ương tình báo. (1975, Tháng Tư). Phủ Thủ Tướng (hồ sơ số 18716). Trung tâm lưu trữ quốc gia II, Tp,HCM.


